Tản văn của Thanh Tuấn
...Nhớ hồi tượng mã pháo xe
Thấy bát nước chè nhớ tộ đường non...
Cái câu hát đưa nôi đó vẫn còn theo má tôi trong những trưa hè ru cháu ngủ. Trưa nay, tiết trời chẳng còn xuân. Nắng hanh hao hơn. Vài sợi nắng xuyên qua cây cam trước nhà đổ loang lổ giọt vàng xuống sân. Má tôi lại ru thằng Tí con chị ba bằng cái giọng ru ám ảnh ấy. Ba tôi ra ngồi trên hiên nhà dựa lưng vào tường nhìn ra. Cái hình dáng gầy guộc, đen nhẻm vì sương nắng trước mặt tôi như lạ quá. Tôi len lén nhìn như không ngỡ đó là ba mình. Tay cầm ca nước chè, bàn tay xương xương cứ lắc vòng cho ca nước chóng nguội. Thỉnh thoảng ba đưa lên hớp một tợp nhỏ, rồi chiếp chiếp như cảm nhận cái hương vị của nước chè. Mắt ba nhìn như thôi miên vào con chim bả trầu nửa đỏ óng, nửa đen tuyền đang chuyền trên cành cam bắt sâu. Cái ánh nhìn sâu thẳm như chắt cả yêu thương vào con vật nhỏ đáng yêu đó.
Có lần ba nói, “ước chi đi chợ tìm mua cái bát sứ trắng về uống nước chè cho đã”. Má càm ràm “uống cái chi không được, uống nước chứ có uống cái tô mô”. Ba im. Mỗi lần như thế tôi cứ tự hứa rằng sẽ mua cho ba một cái tô sứ thật trắng, thật đẹp để ba có thể rót nước chè vào đó mà uống. Thứ nước trong vàng đó mà rót vào cái tô sứ hẳn uống ngon hơn. Nhưng cứ hẹn lần hẹn lữa, xuống chợ mua đủ thứ và rồi có nhớ chi đâu cái tô uống nước. Không có tô ba vẫn không bỏ thói quen uống nước chè mỗi xế trưa.
Cứ mặt trời chếch bóng về tây, ba lại rót một ca nước chè ra hiên ngồi uống, hay nói đúng là thưởng thức. Má chẳng hãm chè non bằng nước sôi trong bình giữ nhiệt như những nơi cơ quan, trường học hay quán xá mà tôi gặp. Má nấu nước chè theo cách riêng. Lựa những nhánh chè dầy, không quá non cũng không quá già, má đem vào thui qua lửa ngọn cho chè héo đi, mang ra rửa sạch rồi bỏ nguyên cành lá vào om nước, bắc lên bếp lửa mà nấu. Nước chè má rót ra không xanh, không đậm đỏ mà óng một màu vàng trong suốt. Những cây chè ngoài đồi gò trảng đêm về hứng giọt sương của đất trời, ngày hứng cái nắng của miền trung, chắt chiu từng giọt dinh dưỡng trên đất sỏi để cho ra thứ nước thơm, đăng đắng như một chất gây nghiện. Nhiều khi tôi càu nhàu vì thấy trưa nào má cũng cứ lụi thụi trong bếp nóng hầm hập. “Nhà có ấm điện, bếp ga má không hãm chè non bằng nước sôi có phải mau hơn, khỏi tốn công ngồi buổi trưa trong bếp lửa mà nấu”. Má cười, “má có ngủ trưa được đâu. Ba mi ổng cũng quen uống nước chè nấu rồi. Hãm chè thì nhanh nhưng chát gắt hơn nấu. Với lại nấu nước chè kĩ hơn, có con bọ, con trùng nào cũng chết hết, uống an toàn hơn. Nấu chút chứ mấy, có tốn công bao nhiêu”.
Mỗi buổi sáng, chiều đi làm ba đều mang theo một bình đông nước chè. Cái bình đông thời chiến tranh ba còn giữ lại. Cái bình đông thời tôi vào lớp một nhớ có lần mang nước lên rẫy cho ba, đường dốc mệt mà cả bình đông nước nặng so với đứa ròm như tôi thời đó, tôi trượt chân té và cái bình đông sắt bị móp một bên. Sau bao nhiều năm ba vẫn giữ nó. Nó còn gắn bó với ba hơn tụi tôi. Bởi tụi tôi còn đi học, có lúc làm xa nhà, xa ba má còn cái bình đông suốt ngày cứ bên ba làm nhiệm vụ mang nước. Hằng ngày, nắng cũng như mưa, sáng chiều hai bình nước chè cứ theo ba. Ngày xưa ba cũng uống rượu, uống bia, nhưng rồi thấy rượu bia chỉ hại nên ba bỏ. Nước chè thì không, vẫn sau bữa ăn; vẫn khi làm đồng, làm rẫy; vẫn những ván cờ với mấy bác, chú hàng xóm...không khi nào thiếu ca nước chè.
Thói quen cả mấy chục năm ba vẫn giữ cho riêng mình, giữ như giữ một thứ tài sản quý giá. Cứ những trưa muộn, nắng rây vàng và cơn gió nồm thổi lộng, tôi lơ mơ sau giấc ngủ trưa dài, dụi mắt nhìn ra phía hiên thấy ba đã ngồi đó. Dáng ba ngày một gầy hơn, đen hơn và ánh mắt vẫn nhìn xa xăm như đếm từng sợi nắng rơi qua thềm, nghe tiếng con chim vành khuyên ri từng giọt dài trong trưa êm ả, hay nhìn thôi miên vào con chim bả trầu về theo mùa gặt. Tay ba vẫn không thôi lắc tròn cái ca nước chè nghi ngút khói. Thỉnh thoảng ba đưa lên miệng hớp một tợp nhỏ rồi chiếp chiếp cho thấm cái dư vị đắng đắng, chan chát của thứ nước vàng trong lánh đó. Và trưa nay ba vẫn ngồi đó, dáng người gầy guộc với mái đầu nhiều sợi bạc, trên tay vẫn ca nước chè không thôi lắc vòng vòng. Má lại đưa chiếc tao nôi kẽo kịt.
“..Thương nhau múc chén chè xanh
Làm tô mì Quảng ...chớ ...mời anh ăn cùng....”
- Thanh Tuân-