VĨNH BIỆT NHÀ GIÁO, NHÀ BÁO, NHÀ THƠ NGUYỄN CÔNG THẮNG

29/12/2021 09:54:04 AM         

Nhà giáo, Nhà báo, Nhà thơ Nguyễn Công Thắng đã vĩnh biệt cõi trần vào ngày 27/12/2021 sau một thời gian lâm bạo bệnh (thọ 70 tuổi). Tôi (Mai Bá Ấn) là sinh viên được thầy dạy và hướng dẫn tiểu luận thời học ở ĐHSP Quy Nhơn. Năm 2015, do được mời viết tham luận Hội thảo về Phong trào đấu tranh học sinh, sinh viên miền Nam, tôi có viết bài này, trong đó có những kỷ niệm cùng thầy. Nhân đây cũng xin giới thiệu thêm chùm thơ của thầy trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Thầy cũng đã từng một thời là Phóng viên Đài PTTH Quảng Ngãi, Báo Lao Động, Thời báo Kinh tế Sài Gòn

 (Ảnh: Thầy Nguyễn Công Thắng - bên phải)

 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA SINH VIÊN, TRÍ THỨC MIỀN NAM
                                                                                       - CẢM NHẬN CỦA NGƯỜI ĐI SAU
 
- MAI BÁ ẤN
 
Thật ra, cái người đi sau ấy, bây giờ cũng đã trên tuổi năm mươi. Và có thể nói, nếu chưa có ngày thắng lợi vĩ đại 30/4/1975, thì bản thân tôi - một chú bé nông dân có thiên hướng văn chương, nhất định cũng sẽ là một trong những người sẽ tham gia vào phong trào đó. Có nghĩa là, thế hệ chúng tôi là thế hệ rất gần với các anh chị trong phong trào đấu tranh của sinh viên, trí thức miền Nam. Và thực ra, lúc ấy, ở lứa tuổi Tiểu học và Trung học đệ nhất cấp (Cấp 1 và Cấp 2 bây giờ) thì hành động đấu tranh, xuống đường của các anh chị ở bậc trung học đệ nhị cấp, sinh viên và giảng viên các trường Đại học đã thực sự trở thành niềm tin, lý tưởng trong lòng đám học trò nhỏ tuổi chúng tôi.
Về phong trào đấu tranh của sinh viên, trí thức miền Nam giai đoạn 1954-1975 đã có nhiều học giả nhận xét, đánh giá một cách nghiêm túc và khoa học. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin được nêu lên vài cảm nhận chân thành về phong trào đấu tranh ngày ấy của các thế hệ đàn anh trong suy nghĩ và tình cảm của riêng mình.
 
1. Cảm nhận từ những thần tượng
Phong trào đấu tranh của sinh viên, trí thức miền Nam hòa chung cùng phong trào đấu tranh của Phật giáo ở miền Nam giai đoạn 1954-1975. Ngày ấy, tôi là một chú bé “Oanh vũ” thuộc tổ chức Gia đình Phật tử, cho nên những tấm gương “vị quốc thiêu thân” của các bậc Hòa thượng, Đại đức, những Phật tử trong phong trào đấu tranh của Phật giáo chống chế độ Mỹ - Diệm, thật sự đã trở thành niềm cảm phục thiêng liêng của chúng tôi. Đó là gương tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963, Đại đức Thích Nguyên Hương ngày 4-8-1963; Đại đức Thích Thanh Tuệ ngày 13-8-1963, Ni sư Diệu Quang ngày 15-8-1963, Thượng tọa Thích Tiêu Diêu ngày 16-8-1963, Phật tử Hồng Thể ngày 29-9-1963, Đại đức Thích Quảng Hương ngày 5-10-1963, Đại đức Thích Thiện Mỹ ngày 27-10-1963 (Theo Sa-môn Thích Thiện Hoa, 50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Viện Hóa đạo, tr.105-106). Đây chính là những thần tượng trong tâm nguyện một thiếu nhi Phật tử (Oanh vũ) chúng tôi.
Còn trong lòng của một cậu bé nông dân lứa tuổi thiếu niên, lại đam mê văn học nghệ thuật thì tên tuổi những thủ lĩnh của phong trào đấu tranh, đặc biệt là các văn nghệ sĩ dấn thân vào phong trào và trực tiếp sáng tác từ trong phong trào đã thực sự trở thành những thần tượng sống trong ước mơ, lý tưởng của riêng tôi. Công bình mà nói, cho đến bây giờ, khi đã trưởng thành, và cuộc sống đang biến động không ngừng theo cơ chế thị trường và thời đại hội nhập, thì cho dù tất cả những thủ lĩnh phong trào đấu tranh thời ấy, hiện nay đang làm ở cương vị nào hoặc chỉ là một công dân bình thường thì tên tuổi của họ cũng đã ăn sâu vào tâm khảm chúng tôi với một lòng cảm phục sâu sắc và trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, một niềm ngưỡng vọng không thể phai mờ. Đó là những thủ lĩnh phong trào như Lê Quang Vịnh, Trần Quang Cơ, Huỳnh Tấn Mẫm,… là những văn nghệ sĩ dấn thân vào phong trào bằng chính hành động và sáng tác của mình mà tên tuổi, tác phẩm của họ đã hằn sâu vào trong tiềm thức của tuổi thơ chúng tôi và duy dưỡng cho mãi đến bây giờ. Có những người đã hi sinh nhưng thật sự trở thành những thần tượng ám ảnh trong tôi với tất cả niềm kính yêu và ngưỡng mộ như Ngô Kha, Trần Quang Long… Những tên tuổi tài danh như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Chỉ, Trần Vàng Sao, Tần Hoài Dạ Vũ, Đông Trình, Lê Văn Ngăn, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Đông Nhật, Võ Quê… Những nhạc sĩ mà tác phẩm của họ tôi đã thuộc nằm lòng từ khi còn thơ bé, như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh, La Hữu Vang, Nguyễn Phú Yên, Miên Đức Thắng, Nguyễn Văn Sanh… Riêng với Trịnh Công Sơn, thì phải nói cho công bằng và thật lòng là: Tuy vị trí của anh trong phong trào đấu tranh chỉ là thứ yếu, nhưng chính tài năng và những tác phẩm âm nhạc phản chiến đầy tính nghệ thuật (nội dung thì phản chiến rõ ràng mà nghệ thuật lại hút người như một ám ảnh ma mị đầy quyến rũ) đã khiến anh thật sự trở thành động lực, thành niềm cuốn hút bất khả giải của học sinh, sinh viên, trí thức thời ấy và cho mãi đến bây giờ. Có thể nói rằng, chính dòng nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn đã khiến chúng ta càng yêu kính Trịnh Công Sơn hơn bên cạnh tình yêu đơn thuần với một Trịnh của những tình ca bất hủ.
Tóm lại, khi mà biết và hiểu rằng: Phong trào ấy nếu còn, thì mình sẽ là người tiếp tục dấn thân và cảm nhận rằng, những con người dấn thân vào phong trào là những thần tượng của mình, thì lẽ đương nhiên, trong lòng thế hệ chúng tôi tự đánh giá, đó là con đường đúng đắn và vinh dự của thế hệ trẻ miền Nam sống trong vùng địch tạm chiếm.
 
2. Cảm nhận từ những người thầy
Sau 1975, tôi tiếp tục học cấp 2, rồi cấp 3, và 1978 thì trở thành sinh viên Văn của trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn - nơi mà Trịnh Công Sơn và nhiều người tham gia trong phong trào đã từng có một thời học tập.
Chính từ trên ghế giảng đường ĐHSP Quy Nhơn, tôi được gặp một người thầy đã từng trưởng thành từ thời đấu tranh của sinh viên Huế thời ấy - Thầy Nguyễn Công Thắng. Từng là một học sinh “mê” các thủ lĩnh của phong trào sinh viên miền Nam trước 1975, nên với thầy Nguyễn Công Thắng, tôi có những kỷ niệm đặc biệt cho dù lúc đó thầy chỉ mới từ ĐHSP Huế chuyển về Trường và giảng dạy phần Văn học cận đại Việt Nam. Số là, trong học phần Văn học Việt Nam cận đại, tôi được chọn làm Luận văn do thầy Trần Văn Thận hướng dẫn chính và thầy Nguyễn Công Thắng hướng dẫn phụ. Thầy Trần Văn Thận lúc đó là Phó Hiệu trưởng trường nên sau khi thống nhất đề cương, tôi thường làm việc trực tiếp cùng thầy Nguyễn Công Thắng. Đề tài của tôi lúc đó là “Chủ nghĩa yêu nước từ Phan Bội Châu đến Nguyễn Ái Quốc qua hai tác phẩm Việt Nam vong quốc sử và Bản án chế độ thực dân Pháp”. Ngoài giờ hướng dẫn, thầy trò vẫn thường tâm sự cùng nhau. Khác với những ngày đấu tranh sôi nổi trong phong trào, thường ngày thầy Thắng sống lặng lẽ - cái lặng lẽ của một hồn thơ. Tôi có thể mượn lời của một sinh viên đàn em khi tâm sự về thầy Thắng: “Bài thơ của thầy Nguyễn Công Thắng từng để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng những đứa sinh viên khóa 9 (1986 - 1990) thuở ấy! Khi in bài thơ này, thầy đã chia tay chúng tôi về Quảng Ngãi, rồi vào Sài Gòn làm báo Lao Động. Chúng tôi vẫn dõi theo thầy, mong một lần tái ngộ! Thầy rất lặng lẽ, nhưng chúng tôi biết thầy là một lãng tử tài hoa”. Bài thơ để lại ấn tượng trong lòng những thế hệ sinh viên Quy Nhơn đó là bài “Blue trong mưa”. Tôi xin trích ra đây một đoạn để chứng minh cho hồn thơ ấy: Ai gõ cuồng điên những nhịp buồn/ mưa tạt qua khoảng trống lạnh lùng bỏ lại/ bông hoa nào vùi quên/ cánh cửa mở ra hờ hững/ mưa - tôi nhớ gì trong mưa/ phố cũ lênh đênh trôi giạt/ những bóng hình thoáng qua những quãng đời trôi xa nụ cười lung linh tan vỡ… Chỉ cần một đoạn thơ này đã nghe phảng phất xu hướng thơ tượng trưng, siêu thực cùng trường phái với Ngô Kha thời ấy…
Ảnh: Thầy Nguyễn Công Thắng (bên trái người nữ), thầy Nguyễn Khánh Nồng (bên cạnh thầy Thắng), thầy Hà Tùng Sơn (bên đối diện thầy Nồng)
Riêng đối với sinh viên khóa 1 (1978-1982) của chúng tôi thì có một kỷ niệm không thể nào quên đối với thầy Nguyễn Công Thắng. Kỷ niệm đó, khiến chúng tôi vừa thấy thương vừa thấy tội lại càng cảm phục hơn bản lĩnh và phong cách của thầy. Chuyện là: Trường ĐHSP Quy Nhơn lúc đó thực ra chỉ là một Cơ sở của Đại học Sư phạm Huế, vì thế chưa tổ chức tuyển sinh mà chủ yếu lấy sinh viên trên cả nước về để nhập học. Cho nên, ngoài số sinh viên từ phổ thông lên như tôi, trong lớp Văn lúc bấy giờ có rất nhiều bộ đội chuyển ngành theo học. Giảng viên của trường chủ yếu là mời thỉnh giảng các giảng viên nổi tiếng của các trường Đại học phía Bắc. Đến năm thứ 2, thầy Thắng về, thầy được xem là một giảng viên trẻ. Vẫn với phong cách của sinh viên Văn khoa cũ, tóc thầy để rất dài (khác xa với những vị giảng viên nổi tiếng khác). Hôm đầu tiên, thầy Thắng lên lớp, trong lúc tôi đang chờ đợi một trong những hình ảnh thần tượng của mình giảng thì bỗng thầy nhìn xuống lớp và phát hiện ra đồng chí Lớp trưởng bộ đội vẫn đội nguyên mũ kết sĩ quan trong lớp học. Thầy đề nghị anh bỏ mũ xuống để ngồi học thì anh lập tức phản ứng: “Trang phục của bộ đội sĩ quan chúng tôi được quyền đội mũ trong hội trường”. Thầy nói đại ý: “Nhưng giờ này, anh là sinh viên, đề nghị anh chấp hành theo quy định của giảng đường trường đại học”. Anh bộ đội Lớp trưởng không chấp nhận lại còn lên giọng: “Đồng chí là giảng viên, đồng chí tự xem lại cái đầu tóc của đồng chí đã đúng tư cách là một giảng viên chưa?”. Thầy nói đại ý: “Việc tác phong của tôi sẽ do Ban Giám hiệu lo, còn đây là giờ giảng của tôi, tôi đề nghị anh bỏ mũ xuống để chúng ta bắt đầu giờ học”. Trước sự đồng tình của lớp đối với thầy, đồng chí lớp trưởng đành phải bỏ mũ để học. Nhưng vì đồng chí ấy là Đảng viên nên câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó mà sau này trong cuộc họp Chi bộ Khoa Văn (Có cả Đảng viên cán bộ, giảng viên và sinh viên), vụ việc lại tiếp tục được đồng chí ấy đưa ra. Rồi vụ việc ấy được giải quyết như thế nào, thầy Thắng có bị phê bình, góp ý gì không thì lúc đó, một cậu sinh viên đàn em về tuổi tác, ngoài Đảng như tôi, rõ ràng tôi không biết hết. Nhưng sau này, khi gặp lại một số anh em cũng là bộ đội, Đảng viên học cùng lớp thì mới biết rằng: Chi bộ có phê bình đồng chí Lớp trưởng đó sai, nhưng đồng thời cũng có góp ý thầy Thắng về “mái tóc hơi dài”… Rõ ràng, cuộc đối thoại giữa thầy Thắng và đồng chí Lớp trưởng trên kia đã bộc lộ rõ bản lĩnh của một người từng dấn thân vào phong trào đấu tranh. Điều đó càng khiến tôi thêm quý yêu thầy. Nhưng có lẽ, với thầy Thắng, âu đó cũng là một kỷ niệm buồn trong đời làm nghề giáo của mình. Còn anh bộ đội Lớp trưởng kia, sau khi ra trường, tham gia buôn bán đồ cổ và lâm bệnh hiểm nghèo qua đời, nên tôi cũng không tiện nhắc lại tên.
Năm 1982, tôi ra trường và về dạy học tại Quảng Ngãi. Sau đó khoảng 5 năm thì thầy cũng chuyển về quê, công tác tại Đài Phát thanh Truyền hình Quảng Ngãi. Nhân Kỷ niệm Ngày học sinh, sinh viên toàn quốc (09/01) tổ chức tại Trường PTTH Tư Nghĩa 1, gần trường tôi dạy. Lúc này, tôi ở trong Ban chấp hành Đoàn Trường Tài chính - Kế toán nên tôi đưa sinh viên về dự. Thầy, với tư cách phóng viên đã đến dự để đưa tin. Trong buổi lễ kỷ niệm trọng thể này, thực ra cũng chẳng ai biết thầy là ai cho dù bài diễn văn khai mạc của Tỉnh đoàn Quảng Ngãi viết rất hùng hồn về lịch sử phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên từ Trần Văn Ơn cho đến cận những ngày miền Nam giải phóng. Thầy vẫn lặng lẽ đứng bên ngoài làm nhiệm vụ của một phóng viên. Tôi đến với thầy. Và với tâm trạng vì thấy “người trong cuộc đang đứng ngoài cuộc”, tôi hỏi thầy: “Nhân hôm nay, thầy nghĩ gì về những ngày tháng ấy?”. Thầy nhỏ nhẹ như giọng thầy từ muôn thuở: “Đó là những ngày tháng hào hùng và tuyệt đẹp ở quãng đời tuổi trẻ của mình mà có lẽ bây giờ muốn tìm lại cũng khó lòng có được” (Lúc đó, thầy xưng với tôi bằng “mình” khiến tôi càng cảm phục thầy hơn!)…
Năm 2002, tôi đi học Cao học tại Đại học Sư phạm Huế và đã được học nhiều chuyên đề của thầy Bửu Nam - cũng là một trong những thủ lĩnh của phong trào đấu tranh của sinh viên Huế. Cùng làm thơ và dạy học nên thầy Bửu Nam xem tôi như người bạn. Mỗi lần ngồi với nhau cũng chỉ nói chuyện văn thơ và tuyệt nhiên thầy không nói gì về mình trong những ngày tranh đấu ấy (Sau này khi gặp lại thầy Thắng, tôi mới biết thầy Thắng và Bửu Nam đã từng là bạn đấu tranh chung một phong trào). Chỉ duy có một lần, được nghe người khác kể về thầy, tôi lại càng thêm kính phục thầy hơn. Nguyên là, khi tôi đang học Cao học ở Huế thì Hội Điện ảnh Việt Nam có triệu tập tôi dự một Trại sáng tác kịch bản điện ảnh mở tại Đà Nẵng. Vậy là, tôi tranh thủ ra vào Huế - Đà Nẵng để dự trại. Người hướng dẫn lý thuyết cho Trại sáng tác không ai khác hơn, cũng là một người gốc Huế, bạn của thầy Bửu Nam, đó là Đạo diễn nổi tiếng Nguyễn Vinh Sơn. Trong những ngày dự trại, tôi và Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn quen biết nhau, và khi nghe tôi đang học với thầy Bửu Nam ở Huế thì lập tức, Nguyễn Vinh Sơn nói như ra lệnh: “Vậy sau khi bế mạc trại, mình với Ấn cùng ra Huế để Ấn đưa mình đến gặp Bửu Nam. Mình đang cần Bửu Nam giúp, mà việc này chỉ có “Mệ” Bửu Nam giúp mới nên hồn”. Việc mà Vinh Sơn cần thầy Nam giúp chính là tìm hiểu thêm về tâm lý phụ nữ Huế và chọn một số cảnh để chuẩn bị quay cho bộ phim “Trăng nơi đáy giếng” được anh viết kịch bản trên cơ sở một truyện ngắn của Trần Thùy Mai. Vậy là, trên đường chạy xe Hon đa từ Đà Nẵng ra Huế, lúc dừng chân ăn trưa ở Phú Lộc, trước vẻ đẹp của mênh mông đầm phá Cầu Hai, Nguyễn Vinh Sơn đã kể về những ngày tranh đấu của thầy Bửu Nam trong phong trào sinh viên ngày ấy: “Bửu Nam gốc hoàng tộc nên mê Phật giáo, mình là dân Thiên Chúa giáo, vì thế, thời sinh viên mình không có tham gia phong trào, nhưng yêu nước thì rõ ràng là có thừa, và vì vậy, cái hình ảnh Bửu Nam cao lêu khêu với đôi kính cận dày cộp, cầm tấm băng rôn phản chiến dẫn đầu đoàn đấu tranh cứ ám ảnh mình mãi. Đó là một ngày Huế có mưa. Đứng dưới mưa, Bửu Nam cứ hô vang khẩu hiệu đấu tranh trước dàn lưỡi lê của cảnh sát, mình cứ ái ngại cho bạn mình. Mình quý mến và cảm phục Bửu Nam là vậy”. Vậy là, đã hẹn từ hôm còn ở Đà Nẵng nên tối hôm đó, tôi, Nguyễn Vinh Sơn và thầy Bửu Nam hội ngộ nhau bên bờ sông Hương thơ mộng. Đêm đó, ngoài việc nhờ Bửu Nam tư vấn một số vấn đề về bộ phim sắp quay, Nguyễn Vinh Sơn cũng đã nhắc lại những lời mà anh đã tâm sự với tôi trưa hôm ấy trước sự chứng dám của sông nước Cầu Hai.
Thầy Nguyễn Công Thắng sau khi chuyển từ Quảng Ngãi vào làm báo ở Sài Gòn, tôi không còn gặp lại, có lẽ giờ thầy đã nghỉ hưu. Còn thầy Bửu Nam hiện đang là Phó Giáo sư, Tiến sĩ giảng dạy Văn học phương Tây ở Đại học Sư phạm Huế. Họ là thế hệ tiếp nối của lớp đàn anh như Ngô Kha, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Trần Triệu Luật…. Đây là những con người cụ thể tôi tiếp tục gặp được trong thời bình để khẳng định việc những người dấn thân vào phong trào sinh viên tôi đã chọn làm thần tượng để phấn đấu là những cảm nhận đúng đắn và mãi mãi in đậm trong lòng tôi những tình cảm cao quý nhất.
 
3. Cảm nhận từ một người đồng nghiệp
Năm 1982, tôi về giảng dạy tại Trường Đại học Tài chính - Kế toán (Lúc đó còn là Trường Trung học Tài chính Kế toán 3). Nhiệm vụ của tôi lúc này là giảng dạy Văn theo hệ Bổ túc văn hóa cấp 3 cho số học sinh tuyển đầu vào mới tốt nghiệp cấp 2. Cũng trong khoảng thời gian này, Trường tiếp nhận một một giáo viên từ Trường Quân chính Quân khu V về giảng dạy Quân sự tại trường. Đó là anh Đặng Minh Quốc - Người trực tiếp tham gia vào phong trào đấu tranh của học sinh Quảng Ngãi.
Là một gia đình có truyền thống cách mạng, Đặng Minh Quốc bắt đầu hoạt động phong trào từ khi bước vào học cấp 2 ở Trường Lê Văn Cao (Đức Phổ). Sau đó, để tránh tai mắt địch, anh chuyển ra học lớp 8 ở Trường Trung học Bồ Đề (Mộ Đức) và tiếp tục gây dựng phong trào tại đây. Đến tháng 8 năm 1970, Quốc chuyển ra trọ học Trường Trung học Bồ Đề (thị xã Quảng Ngãi). Đây là những ngày tháng hoạt động sôi nổi nhất của anh. Từ tháng 01 năm 1971, theo yêu cầu công tác, anh chuyển sang hoạt động bí mật tại Đội Biệt động thị xã Quảng Ngãi. Để chuyển được một khẩu súng vào trong nội thành lúc đó rất khó khăn. Vì thế, hàng tuần, với lý do về lấy gạo ra trọ học, cứ cuối tuần anh lại lồng một bộ phận của khẩu súng do cơ sở ở Đức Phổ cung cấp vào trong bao gạo để chuyển ra nhà trọ. Và thực ra, suốt trong thời gian học ở thị xã, anh học thì ít mà chủ yếu là theo dõi tình hình địch ở nội thành. Một lần, do kẹp vội bức mật thư cấp trên chuyển đến trong cuốn vở học lại vội vã bỏ quên vở ở nhà, nên ông chủ nhà trọ đã phát hiện và báo cáo cảnh sát đến vây bắt. Ngày 23/3/1971 bị bắt, bị giải đi các nhà lao và cuối cùng đầy ra Côn Đảo đến ngày 01/5/1975, anh mới chính thức rời khỏi nhà tù. Chuyện anh bị tra tấn và miệt mài đấu tranh trong nhà tù thế nào chúng tôi không kể lại. Tất nhiên, anh là một chiến sĩ kiên trung. Tôi chỉ xin kể cái đoạn sau, mà bây giờ, mỗi lần Ngày 09 tháng Giêng đến, tôi thường lấy tấm gương của anh để nêu gương cho các thế hệ sinh viên. Do lo hoạt động và đấu tranh nên khi về trường giảng dạy Quân sự, anh chỉ mới tốt nghiệp cấp 2. Để tiếp tục nâng cao trình độ văn hóa của mình đáp ứng nhiệm vụ mới, anh đã đăng ký học Bổ túc văn hóa cấp 3. Ngoài việc học chính khóa, cứ hàng đêm, anh bưng cái đèn dầu đến nhà từng thầy giáo để nhờ phụ đạo (Xin lưu ý, những tháng năm bao cấp ấy, nhà thầy cũng không đủ dầu thắp nên trò phải bưng đèn dầu đi theo học). Do Tổ Bộ môn Văn hóa chúng tôi có đủ giáo viên các môn học, nên chúng tôi, với tinh thần đồng nghiệp đã giúp anh học và tốt nghiệp cấp 3. Tôi phụ đạo anh môn Văn. Một người đồng nghiệp nhỏ đang ôn thi cho một chiến sĩ tù Côn Đảo, điều này đã để lại cho tôi một ấn tượng vừa tự hào vừa vô cùng xúc động pha lẫn niềm mến phục. Vài năm sau, anh thi đỗ vào Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội và hoàn thành chương trình cử nhân kinh tế. Sau đó anh vừa giảng dạy Quân sự vừa là Trưởng phòng Quản trị thiết bị của trường cho mãi đến ngày nghỉ hưu (2014). Với người đồng nghiệp đặc biệt này, tôi cứ cảm nhận, anh vừa là một “học trò lớn” của tôi về kiến thức học tập, nhưng đồng thời, tôi lại là một “người thầy nhỏ” của anh về lý tưởng, niềm tin và ý chí vượt khó khăn.
Với tư cách thế hệ đi sau nhìn nhận và đánh giá về một phong trào đấu tranh của thế hệ đi trước vì hòa bình, thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, tôi xin chân thành nêu lên vài cảm nhận tự đáy lòng mình như thế.
Quảng Ngãi, 2015
 
Ý kiến của bạn: