- Mai Bá Ấn
Đầu năm 2007, trong đoạn kết Lời bạt khi tập thơ “Tình học trò” của Lý Văn Hiền tái bản sau hơn 30 năm xuất bản lần đầu (1974), tôi đã viết: “Bây giờ thì chàng họ Lý đã quá tuổi 50, đã xế bóng chiều rồi. Và chàng vẫn ngồi yên đó với thơ, vẫn trụ được với thơ qua bao chuyển xoay thời cuộc. Thơ Hiền giờ đã già dặn hơn, triết lý hơn lên theo tuổi. Song cái hồn si mê, một chút đam mê phù du và cái phong cách phóng túng, cái lãng đãng suy tư pha một chút cuồng ngông thì vẫn vậy”. Cho đến nay, bên cạnh “Tình học trò”, anh đã trình làng thêm hai tập thơ nữa (Trăng côi - 2000, Khao lề thế lính Hoàng Sa và những bài thơ khác - 2009) cùng với tập văn xuôi (Hình nhân và mộ gió - 2012). Gần 15 năm nữa đi qua, “Chàng thi sĩ học trò ngày ấy”(1) vẫn lặng lẽ và cẩn trọng chắt lọc để “ngậm ngải” đi tìm những “lõi trầm thơ”(2) làm sáng hơn lên phong cách vốn có của ngòi bút già dặn này.
Tính ra, gần một đời người mà chỉ mới công bố 3 tập thơ thì Lý Văn Hiền quả đúng như nhà thơ Thanh Thảo nhận xét, đó là người “ngậm ngải tìm thơ”. Đi qua “Tuổi học trò” ngây ngô, vụng dại, si mê, cuồng ngông trong cái tôi chính mình, đến đoạn đường “ngậm ngải tìm thơ” để hòa mình vào “Khao lề thế lính Hoàng Sa”, Lý Văn Hiền đã đi từ tự ngã sang tha nhân. Nhưng từng bước đi ấy của thơ, phong cách Lý Văn Hiền vẫn vậy. Chỉ khác chăng là đối tượng của thơ đã hướng đến tha ngã, ý vị của thơ đã lặng vào lõi trầm của câu chữ để cất lên những tiếng nói thẳm sâu tự đáy lòng mình. Từ thỉ tới chung, thơ Hiền ít đề cập đến những chủ đề lớn, mà ngay cả với chủ đề lớn, cũng không bao giờ anh “đao to búa lớn”. Mênh mông tình tỏa ra từ cảm nhận sâu lắng của hồn thơ, chuyện lớn lao cũng xuất phát từ những điều rất nhỏ. Tình yêu trong thơ anh là tiếng thở dài của những lỡ làng, âm thầm vọng lại từ một ký ức của “chuyện ngày xưa”. Tha nhân trong thơ Hiền thường là những phận người bé mọn, những số phận éo le.
1. Một chút cuồng si và những lỡ làng tình
Đó chính là cái dáng cuồng si hiển hiện trong suốt tập thơ “Tình học trò” và mãi đến tận sau này nữa. Cái dáng dấp “hơi tiêu cực” ấy trong tình cảm học trò có lẽ là điều lạ nhất làm nên cái hay, cái độc đáo của tập thơ này so với các tập thơ học trò thời mới. Vâng, cuồng si, mà lại si tình đến mức quên học, bỏ học... dễ đưa ta đến cảm giác “không nên”. Tôi không biết thời ấy chàng học trò họ Lý sinh năm Ất Mùi (1955) nơi vùng quê nghèo Ba Gia (Sơn Tịnh) ấy đã biết yêu và có yêu thực vậy không, nhưng qua thơ, ta cảm nhận rất rõ không khí tình si kia là có thật. Nhưng… tôi có cảm giác cái loại tình-si-học-trò ấy là một loại si tình ảo, một kiểu si tình vô hại. Đó thực chất mới chỉ là nỗi si mê của tuổi thơ vụng dại cộng thêm bản năng đa cảm cùng một chút ngông thi sĩ mà ra. Chàng trai cảm nhận mình đã tương tư khi chỉ mới vừa biết tên cô bé. Mới có biết tên… đã vội “tương tư”, đã vội “lạnh tâm hồn”, đã “nhớ suốt đêm dài” thì đúng là một tương tư ảo:
Tên cô bé ta biết rồi đấy nhé
Về tương tư nên buồn mấy hôm nay
Đôi mắt bé ta thấy hồn len nhẹ
Lạnh tâm tư gợi nhớ suốt đêm ngày
(Ngôi tù nhỏ).
Có thể dễ dàng khái quát cái “tế bào” cuồng ngông vụng dại từ “Tuổi học trò”:
Nhớ xưa ôm sách cuồng ngông
Trốn thầy bỏ học lên rong trường người
(Khi trở lại trường)
của chàng thi sĩ học trò ngày ấy vẫn còn “di căn” cho mãi đến tận sau này:
Từ em con sáo bay qua
Là chôn đời gã tài hoa xuống mồ
(Từ em…).
Cái ngông thi sĩ ấy còn mang vào trong cả chuyện vợ chồng về sau khi anh giả danh “Tiễn vợ có chồng”:
Mai vui duyên mới em đi
Có con đưa mẹ vu quy sang đò
Có người chồng cũ bên bờ
Nhìn theo giấu vụng mắt vờ lạnh tanh
Nửa nhà mình chẳng còn anh
Phòng quen mai lạ một thân thể nào
Thương con lúng túng câu chào
Thầm thương em lỡ thì thào… nhắc tên…
…Cầu trời sóng lặng gió lành
Vợ tôi đám cưới thêm lần này thôi!
(Tiễn vợ có chồng).
Vượt qua ngưỡng cuồng si thông thường, cái chất cuồng thi sĩ còn ẩn hiện lấp lánh trong thơ họ Lý ngay cả cái sáng đầu năm ở một nơi vốn là không gian linh thiêng, cổ kính:
Bàn chân vấp tiếng chuông chùa
Hình như mình bị vướng bùa ni cô
Lầm thầm miệng niệm nam mô
Tam quan đóng sập ý đồ xuất gia
(Đầu năm).
Rồi cả buổi trưa lang thang nào đó ngang qua cổng chùa, chàng cũng bị “vướng bùa ni cô” như thế:
Tiếng chuông rỗ mặt đường trưa
Trời trồng tôi trước cổng chùa ăn năn
(Muộn).
Nếu trong nhạc phẩm “Nghìn trùng xa cách”, Phạm Duy ca “Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui” thì thơ tình Lý Văn Hiền lại “vui ít hơn buồn”. Anh viết rất hay về những tình lỡ làng, những dở dang cả ở những cuộc tình đầu cho đến những cuộc tình về sau khi đôi bên đã nên chồng nên vợ.
Đó là cái sự lỡ làng bâng quơ của đứa bé đi tìm lá diêu bông vọng âm tự thuở Hoàng Cầm, nhưng không phải là lá diêu bông phiêu bồng mà là “thả qua ruộng những bông lồng vực” vô cùng cụ thể:
Ngày chị có chồng
Em lủi thủi ra đồng
Thả qua ruộng những bông lồng vực
(Chị ấy).
Là tình vụng dại tự thuở đầu đời, cứ tưởng trò đùa của tuổi nhỏ, nào hay… khi mất đi rồi, mới biết mình yêu:
Tưởng rằng chỉ tuổi nhỏ thôi
Ngờ đâu khi mất em rồi mới hay
(Bong bóng bay).
Chính những tình thơ ngây, không dám trao lời, mà kéo rê cuộc lỡ làng, nuối tiếc khi hè trở về, người ấy đã ra đi:
Những mùa hè anh về không còn cô láng giềng chờ bên bờ giậu
Tìm cặp mắt lúng liếng giấu sau tay áo
Anh lên bàu Hung soi gương cũ tiếc người
(Chuyện ngày xưa).
Và có chút đắng cay, ngậm ngùi khi phát hiện ra, đáp số tình yêu bị sai đáp án:
Vào phòng thi tôi chẳng bị muộn giờ
Nhưng kết quả không trùng trong đáp án
Cành mềm ơi đậu nhầm chi số phận
Em của ai rồi tôi vẫn của ngày xưa
(Nhớ ngày xưa).
Từ biết nhuốm trên môi vị đắng tình yêu, những lỡ làng đi dần đến với nỗi cô đơn nơi “vuông quán gió buồn tênh” nghe lành lạnh một chỗ ngồi, đã biết đặt hoa tang để viếng một cuộc tình buồn:
Kỷ niệm sẽ đầy thêm ngôi nhà tôi trọ, riêng chân em không còn ghé thăm. Sau pooc-pa-ga chẳng giọng hát thì thầm để tôi đạp xe lòng vòng quanh phố. Nếu tôi có trở lại vuông quán gió thì cũng buồn tênh khi trống một chỗ ngồi
(Vòng hoa cho chuyện tình).
Tan men tình là đắm trong men rượu, cảm nhận về sự lỡ làng ngày càng tăng thêm nỗi buồn phiền đến “nghiêng quán”, “vẹo xiêu” người, đơn độc lạnh lùng như đồng hành cùng bóng “vạc ăn sương”:
Nhiều phen uống rượu buồn nghiêng quán
Xiêu vẹo ta về trên phố khuya
Có loài chim vạc ăn sương đợi
Ta ngỡ người như vẫn cận kề
(Trăng tím).
Bắt đầu đã biết trách móc, oán hờn khi một lần bất ngờ xui bước chân về ngang “qua cổng trường con gái”:
Lồng son nào sập bẫy
Để em thành xa xăm
Hỡi em con sáo dại
Không bay hoài trăm năm?
(Qua cổng trường con gái).
Đã biết đi tìm nguyên nhân để có cớ trách hờn:
Rồi mẹ ham giàu gả em lấy chồng xa
Người đã sang sông từ mấy độ
Vườn xưa trăng tím ngẩn ngơ sầu
Đêm qua bóng một con dơi nhỏ
Thảng thốt tìm bay đuối canh thâu
(Trăng tím).
Nhưng rồi, những trách hờn kia, theo thời gian đã đắm dần trong sự cảm thông với một tình bao dung khi tuổi đã nghiêng chiều:
Nếu con hỏi em sao mắt mẹ thường buồn
Em cứ thật thà mang tình xưa ra kể:
Thuở ấy có người làm thơ yêu mẹ
Nhưng ngoại chê nghèo chẳng gả thành đôi
(Vòng hoa cho chuyện tình).
Nếu không gian tình si trong “Tuổi học trò” chỉ gói tròn nơi phố thị có “ngôi trường con gái” thì càng về sau, có thể là “mười năm” sau, không gian nghệ thuật thơ Lý Văn Hiền đã được mở rộng về những miền quê kỷ niệm thuở đầu đời. Cái hình ảnh “Tàu cau rụng” như một “dấu hỏi nằm im hơi” là một hình ảnh đẹp, nên thơ dù đắm trong không khí lỡ làng:
Tần ngần trước ngõ ngày xưa
Nhặt lên tiếng gọi cho vừa mười năm
Dặn lòng họ đã xa xăm
Tàu cau rụng
Dấu hỏi nằm im hơi
(Mười năm).
Không gian nghệ thuật lúc này đã len vào ngõ ngách tư riêng, cả khi hai người đã an yên trong cuộc sống gia đình:
Thôi em về với chồng ta về với vợ
Chạng vạng rình nhắc nhở lén sau lưng
(Người xưa).
Lan cả đến chỗ bến Đình của những ngày hát hội khi người xưa đã “tay bồng tay bế”:
Em lấy chồng rồi tay bồng tay bế
Tiếng ru con có chở chút bến Đình?
(Sao đảo không giữ hộ).
Dở dang tình cứ như một “sợi nhớ” giăng giăng trên cả dặm trường không gian sau đó nữa:
Bây giờ em chối bỏ
Bước theo người sang ngang
Con đường buồn hun hút
Nhuộm màu đau dở dang
(Sợi nhớ).
Càng về sau, không gian lỡ làng lại càng mở rộng, khiến cả “thị xã buồn tênh”, “phố xá đứng co ro dầm mưa xám”, cây ven đường “liêu xiêu” nhoài cành ra vẫy tay đưa tiễn:
Có một người theo chồng
Để thị xã buồn tênh
Bỏ phố đứng co ro dầm mưa xám
Xác pháo níu chân mấy bận
Cây nhoài ra đường tiễn biệt vẫy liêu xiêu
(Em theo chồng tháng chạp).
Rời phố thị, giã đồng bằng, Lý Văn Hiền đưa những lỡ làng tình lên cả những đêm dê ô dê của nàng sơn nữ trên vùng cao, từ biệt gia đình chồng để trở về làng cha mẹ ruột theo tập tục vì người chồng đã tử nạn vài năm trước:
Đêm này trắng dê ô dê
Lòng em trải với lời thề nối đôi
Rạng mai em xa nóc thôi
Nửa địu con nửa cõng mười chín xuân
(Dê ô dê).
Từ đây, cảm thức lỡ làng đã chuyển từ tự ngã sang tha nhân, mở rộng đến cả không gian đền đài lăng tẩm “quặn đau tím lòng” soi bóng dưới Hương giang:
Những nàng tôn nữ về đâu
Bỏ sông Hương quặn khúc đau tím lòng
(Huế).
Trùm cả đến phong trào “lấy chồng ngoại quốc” ở các tỉnh đồng bằng Nam bộ. Ở phương Nam ấy, không gian thơ được bắt đầu với những vùng sông nước nghèo lênh đênh những phận “lục bình trôi”:
Tình tôi không giữ nổi em
Quê nghèo không buộc được duyên má hồng
Lục bình ai thả trôi song
Thương em chín khúc đành lòng ngó lơ…
Rồi kết thúc bằng cái nốt “xề” muôn đời của khúc Dạ cổ hoài lang truyền thống:
Chỉ còn có một đêm nay
Tay em tôi nắm ngày mai họ cầm
Bỏ cây đước, bỏ cây bần
Bỏ bài Dạ cổ hoài lang rớt xề
(Có chồng ngoại quốc).
Đau cả đến những dở dang thân phận của người chồng vì hoàn cảnh phải ở nhà làm ruộng, nuôi con, đành phải chia tay để vợ xuất khẩu lao động sang nước người xa xôi vạn dặm. Đọc đoạn thơ này, ta cũng nghe đau đến “bầm cả con tim”:
Anh đành muối mặt làm dưa
Nửa thâm nửa khú nửa chua với đời
Để em xuất khẩu xứ người
Hồ như một cánh chim trời biệt tăm
Ruộng cày, con cái anh chăm
Ngày qua ngày có vết bầm trong tim
(Em đi xuất khẩu).
Những lỡ làng tình còn tràn ra cả “Đất bên ngoài Tổ quốc”(3), đó là những năm tháng Lý Văn Hiền làm người lính tình nguyện trên nước bạn Campuchia:
Hãy giữ giùm tôi một bữa trăng đầy
Hai đứa bơi thuyền trên dòng sông lạnh
Vành môi tôi trao Van-na còn lành lặn
Không tin em hãy hỏi vầng trăng!
(Pho-nhơ Van-na).
Từ một chút ngông nghênh của tuổi học trò mơ làm thi sĩ đến những cung bậc si tình của một thuở trẻ trai, Lý Văn Hiền mang cái phong cách ấy đi dần cùng thơ mình từ không gian nghệ thuật này đến không gian nghệ thuật khác, từ cung bậc lỡ làng của tự ngã tình si đến những kiếp phận dở dang tha ngã của muôn người bằng những câu thơ sâu lắng như ủ trầm từ một trái tim đa cảm.
2. Số phận người và những vọng âm từ ký ức
Không thả ngòi bút tung hê cảm xúc một cách tràn lan, thơ Lý Văn Hiền là thơ của sự chắt lọc và sâu sắc, thâm trầm. Con người trong thơ Lý Văn Hiền thường được nhìn thông qua số phận mà không bao giờ là cái nhìn hình tượng. Anh rất giỏi miêu tả nỗi đau của những người có số phận éo le, bi kịch, đặc biệt là những phận người bé mọn. Gặp người ăn mày trên đường, chỉ cần qua bàn tay khẳng khiu, gầy guộc, Lý Văn Hiền đã khắc họa nên một mảnh đời, một số phận trầm luân:
Khẳng khiu như nhánh củi khô
Nhăn nheo mảnh giấy ai vò nát chơi
Bàn tay chìa trước mặt tôi
Run run nặng một kiếp người trầm luân…
Và dường như anh đã thuộc nằm lòng lời ca dao cổ: Ăn mày là ai? - Ăn mày là ta/ Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày. Vì thế, anh lập tức tự nghĩ về mình và lập tức hành động như một bản năng:
Tự dưng lại nghĩ đến mình
Khẽ khàng tay nhón đồng trinh đặt vào
(Bàn tay).
Dải đất miền Trung uốn cong chiếc eo thon của vùng đồng bằng hẹp và mảnh để đối diện với bão bùng, giông tố trước biển khơi, ai cũng hiểu thân phận của kiếp vạn chài, nhưng để viết được những câu thơ đau đến nỗi này thì quả là không phải ai cũng viết được:
Vạn chài oằn nặng nỗi đau
Cửa song gió hú dội sâu tên người
Ngọn tre cong vẫy trùng khơi
Cụm tra bạc mặt lá phơi ngóng chờ.
Từ những số phận chung của kiếp vạn chài với ngôi nhà lá dừa ven biển, bão về là bốn bề gió hú, đến cây cối thiên nhiên cũng cong mình, bạc mày bạc mặt, Lý Văn Hiền đặc tả nỗi đau rất đặc trưng của những bà mẹ biển:
Mẹ già đã cạn tiếng hờ
Khóc chồng ngày trẻ bây giờ khóc con
Lom khom chân lún lối mòn
Quảy dâu một nửa cháu còn nửa lưng
(Bão Chanchu).
Cả đến khi cơn bão đã đi qua, trời yên biển lặng lại rồi, thì cơn bão lòng của nhà thơ vẫn hun hút thổi buốt với nỗi đau của những gì còn lại:
Ngoài khơi cơn bão đã yên
Nước khâu lưỡi sóng đã liền da non
Quê tôi bão vẫn điên cuồng
Giật tung cả giấc trẻ con mớ thầm
(Bão Chanchu).
Số phận của một người bạn ra đi khi tuổi còn quá trẻ cũng được Lý Văn Hiền khái quát bằng một hình ảnh khá ấn tượng:
Bạn chưa chân mỏi đường xa
Đã nghiêng tuổi xuống sân ga cuối cùng
(Khuyết một chỗ ngồi).
Là thân phận nổi nênh, mỏng mảnh của những ngư dân nhận lệnh triều đình đi gìn giữ đảo xa của Tổ quốc:
Thuyền nan từ biệt đảo quê
Cánh buồm cong mảnh khăn che khuất tầm
U u tiếng ốc nghẹn âm
Đục như giọt lệ nuốt thầm tiễn đưa
Hải trình dầu dãi nắng mưa
Phận người tố giật, bão lừa mong manh
Bốn bề trời biển xanh xanh
Mà sâu hút sợi chỉ mành treo chuông
(Khao lề thế lính Hoàng Sa).
Từ những thân phận ấy, Lý Văn Hiền đã khái quát được cả tấm lòng yêu nước mênh mông. Và chính sự khái quát từ những số phận cụ thể này mà sức bao chứa của lòng yêu nước lại càng nhói đến tận tim gan:
Thân còn sót đoạn xương thừa
Cũng mài vào đá mà thưa cùng người
Đây là cương thổ muôn đời
Sóng làm lưỡi kiếm vạch trời đất ghi.
(Khao lề thế lính Hoàng Sa).
Cho đến cả số phận éo le, nổi chìm từ lúc còn sống cho mãi đến khi đã khuất đi rồi của thi sĩ tiền bối Bích Khê, Lý Văn Hiền cũng thổ lộ bằng một sự thấu cảm rất cụ thể qua từng chi tiết nhỏ:
Tinh hoa thổ huyết trao người
Cỏ vàng lem luốc mộ còi cọc ghi
Tay cầm nhang vẫn hồ nghi
Mệnh sao bạc đuổi cõi thi nhân nằm
(Bích Khê).
Làm ta liên tưởng ngay đến thân phận Nguyễn Du xưa:
Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên
Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây…
(Bên mộ cụ Nguyễn Du - Vương Trọng).
Bên cạnh những phận đời bé mọn, éo le, bi kịch… thì khắc họa lại cụ thể những vọng âm từ ký ức cũng là một thế mạnh của thơ Lý Văn Hiền:
Những ngày xưa đã xa rồi
Còn đây gió hú bên đồi vọng âm! (Mất).
Cái tiếng “hú” từ ký ức vọng về này khiến ta nghe lành lạnh. Đó là ký ức về nguồn cội quê hương trong tâm khảm những người con xa quê:
Xứ sở tôi neo vào ký ức
Dẫu biền biệt bao năm chưa buổi quay về
(Ký ức).
“Những kỷ niệm xỏ trôn kim thời gian” là một cách nói về ký ức rất Lý Văn Hiền:
Những kỷ niệm xỏ trôn kim thời gian
Miếng vá hình mắt người mọc lại
Thèm nghe tiếng xe ngựa già lọc cọc
Gõ đường trưa uể oải cựa mình
(Về Quảng Ngãi).
Nó cứ khắc khoải đi về trong tâm thức:
Ký ức tôi là lũy tre làng
Khắc khoải đỏ từng ngọn lá
(Ký ức).
Còn là những kỷ niệm tuổi thơ với những trò chơi đánh giặc, làm vua :
Lại gặp quanh đây cô bạn ngày xưa
Đầu húi trọc cũng xưng mình Trưng Trắc
Quê ngoại nghèo nên em đuổi giặc
Để thắng trận chia nhau khúc củ mì lùi
(Ký ức).
Rồi chơi trò cưỡi ngựa tàu cau làm đám cưới giữa hoàng cung, sự nuối tiếc vì hiện tại lỡ làng khi khuyết vai hoàng hậu:
Hoàng tử xưa có công chúa đẹp hiền
Mà vương quốc bây giờ khuyết vai hoàng hậu
Anh vẫn cưỡi ngựa tàu cau tìm thời thơ ấu
Dẫu quờ sau lưng mình cứ chạm nỗi trống trênh
(Chuyện ngày xưa).
Đến một địa điểm cụ thể nơi ghi khắc kỷ niệm xưa để “gõ chỗ ngồi thức dậy” khiến cho cả ký ức vọng âm đầy thi vị:
Tôi đã lên đồi xưa
Gõ chỗ ngồi thức dậy
Em có qua trường xưa
Nghiêng chào thời con gái?
(Qua cổng trường con gái).
Cứ nghĩ ký ức đã ngủ yên vì thời gian đã “thẳng thừng đóng dấu”:
Tưởng yên nghỉ khuôn vườn xanh ký ức
Khi tháng năm đóng dấu thẳng thừng
(Chiều cuối năm).
Nào hay đâu đến bây giờ vẫn cứ “ôm vết thương hằn”, cố tình “lang bạt kỳ hồ” để tìm quên, nhưng tà áo người xưa vẫn “xao xác bay” khiến cho cả dòng sông đã trôi xuôi vẫn “còn run rẩy sóng tình đầu”:
Tên học trò xưa ôm vết thương hằn
Xóa kỷ niệm trong kỳ hồ lang bạt
Mà áo trắng vẫn còn bay xao xác
Nhánh sông xuôi còn run sóng tình đầu
(Người xưa).
Ký ức thì ai cũng có, nhưng có thể nói, đứng ở hiện tại, ghi lại ký ức bằng những vần thơ “còn run sóng tình đầu” đến tận bây giờ, thật sự đã làm nên một phong cách Lý Văn Hiền.
3. Vĩ thanh
Dù không phải là người Quảng Ngãi, nhưng do mê thơ, nên trong suốt cuộc đời làm văn chương ở đây, tôi rất ngạc nhiên và luôn đặt câu hỏi: Tại sao một trường trung học tỉnh lẻ như Trần Quốc Tuấn vào những năm đầu của thập niên 70 thế kỷ trước lại tạo ra một lớp nhà thơ đông đảo đến vậy? Họ thực sự trở thành những cây bút chủ lực sau này của Quảng Ngãi (Bùi Văn Cang, Trầm Thụy Du, Nguyễn Huyền Thạch, Nguyễn Tấn Hải, Nguyễn Qua Truông, Trần Thị Cổ Tích…) và khắp nơi trên cả nước (Nguyễn Đăng Trình, Trần Thoại Nguyên, Từ Nguyên Thạch, Đoàn Vị Thượng, Nguyễn Minh Phúc…), trong đó nổi nhất trong mảng thơ học trò chính là Lý Văn Hiền. Nếu có điều kiện, tập hợp được những gương mặt này vào một tuyển tập chung, có lẽ sẽ là một ấn phẩm khá thú vị và tự hào dành cho cựu giáo chức và học sinh Trần Quốc Tuấn cũng như ghi lại một dấu son trong đời sống thi ca Quảng Ngãi.
Sau 1975, Lý Văn Hiền trở thành chiến sĩ Tình nguyện quân trên chiến trường K. Dù có chửng lại trong sáng tác, nhưng chính những năm tháng ấy đã để lại một dấu ấn khá rõ nét trong chuyển biến thi pháp Lý Văn Hiền về mãi sau này, nhất là những bài thơ viết lại ký ức của một thời máu lửa bên ngoài Tổ quốc:
Đồng đội tôi nằm ven rừng khộp rừng le
Mắt mở trừng trừng mơ về dòng sông quê nhà xa lắc
Có thằng thảng thốt kêu lên Mẹ
Trước khi úp mặt vào ngực đất xuôi tay
(Có một mùa khô ở Ratanakiri).
Có thể nói, những thi phẩm về sau của Lý Văn Hiền đã hoàn toàn khắc phục được những vụng về, nông nổi của “Tình học trò” trước đó, chỉ riêng “cái thói” thi sĩ ngông cuồng thì vẫn cứ âm thầm “di căn”, ngày càng dữ dội mà kín đáo hơn xưa.
Thơ anh chín dần theo thời gian, dù không phải mùa bội thu nhưng là những trái quả ngọt ngào, chất lượng thông qua sự chắt lọc của một ngòi bút biết làm chủ cảm xúc. Mạnh ở chi tiết và mang tính biểu trưng cao, nên văn xuôi của Lý Văn Hiền cũng là văn của một hồn thơ. Chính vì lẽ đó mà tập văn xuôi “Hình nhân và mộ gió” của anh đã thuyết phục được Ban Giám khảo Giải thưởng VHNT Phạm Văn Đồng lần thứ nhất trao giải mặc dù trước sau, anh vẫn là một nhà thơ.
Trong những người làm thơ ở Quảng Ngãi, thì… nổi tiếng từ sớm, thơ in không nhiều, nhưng có nhiều thơ hay, đó chính là Lý Văn Hiền.
Làng Yên Phú, Thu Tân Sửu, 2021.
(1) Mai Bá Ấn, Lời bạt tập thơ Tình học trò, Hội VHNT Quảng Ngãi tái bản 2007
(2) Thanh Thảo, “Ngậm ngải tìm thơ”, Trăng côi, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 2000
(3) Tên tập thơ của Đoàn Tuấn và Lê Minh Quốc, Nxb Văn học ấn hành (1998) gồm 62 bài, trong đó có gần 40 bài thơ đã được viết trong không khí đẫm mùi thuốc súng, trên đất bạn Campuchia