TƯỞNG NIỆM 580 NĂM THẢM ÁN LỆ CHI VIÊN (1442- 2022)
- Mai Bá Ấn
Mùa Xuân năm Đinh Mùi, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 6, Dương đình Ngô Thế Vinh, trong lời tựa “Ức Trai tập” có viết: “Phàm người đã có tài, có đức thì động làm là nên sự nghiệp, động nói là thành văn chương… Nước Việt ta, trải các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê, cứ một đời vua khai sáng là có một vị tướng khai sáng. Nhưng được hoàn toàn như Ức Trai tiên sinh, thì hiếm lắm”(1).
Sự nghiệp chính trị, ngoại giao và thơ văn Nguyễn Trãi (1380-1442), xưa nay đã được nhiều người bàn đến, đặc biệt là mảng văn và áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo”. Về mảng thơ ca, sau kỳ án “Lệ Chi viên”, trước tác của Nguyễn Trãi phần nhiều bị triều đình thiêu hủy và thất lạc, chỉ còn lại “Ức Trai thi tập” (Thơ chữ Hán) gồm 105 bài và “Quốc âm thi tập” (Thơ chữ Nôm) gồm 254 bài vẫn còn rất nhiều điều để nói.
Là một danh nhân lịch sử - văn hóa, con đường đi của “kẻ sĩ” Nguyễn Trãi là hành trình từ một quân sư chính trị đến một nhà thơ. Thiên tài Nguyễn Trãi trên bước đường chính trị, ngoại giao trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh đã được lịch sử rõ ràng minh chứng. Trong kháng chiến và cả những năm đầu hòa bình, Ức Trai đã dùng ngòi bút của mình để viết những áng văn sắc sảo, hào hung, đầy tư tưởng nhân nghĩa. Con đường thơ Nguyễn Trãi lại nở rộ sau sự xoay vần của cuộc thế. Có thể nói từ cuộc đời chính trị, Nguyễn Trãi đã trở về với cuộc đời thơ. Và cuộc đời thơ ấy đã để lại cho nhân gian một gia tài trên thi đàn, có thể nói, còn đồ sộ hơn cả gia tài chính trị trên “sử đàn” Việt Nam; cho dù ông từng biết:
Văn chương tự cổ đa vi lụy
Thi tửu tòng kim thả cố hoài
(Văn chương tự cổ, thường tai họa
Thơ rượu ngày nay mới miệt mài)
(Tặng con cháu ba họ Khổng, Nhan, Mạnh; giáo thụ tại Thái Bình).
Với tư cách là một thi nhân, Ức Trai đã tạo nên một dấu ấn khó phai mờ trên thi đàn Việt Nam, đặc biệt là trong văn chương giữa thế kỷ XV, bởi ông đã sống trọn lòng của một thi nhân với tâm hồn bay bổng, phóng khoáng; tầm nhìn vượt thời đại, “tâm hồn lộng gió thời đại” với tấm lòng yêu thương tha thiết và nỗi ưu tư trước vận nước lẽ đời. Nguyễn Trãi đã để lại trên thi đàn những thi tứ độc đáo, tài hoa, có thể làm đắm lòng cả người đọc đương đại. Đọc câu thơ này của Ức Trai, ta có cảm giác ngả nghiêng của một cơn say thơ mà càng đọc lại càng thấy vô cùng tỉnh táo. Nếu nước sông biến cả thành rượu thì ai uống chẳng say, nhưng đây lại là “xuân tửu” (rượu xuân) thì chắc gì đã là rượu mà say điên đảo, chỉ có say đời và say men xuân. Mà đã là say men xuân thì phải là thơ của một thi sĩ rất yêu đời:
Thử giang nhược biến vi xuân tửu
Chỉ khủng ba tâm thượng túy mien
(Dòng xuân như biến thành sông rượu
Ngại thấy ông say vẫn cứ nguyên) - (Thái Thạch hoài cổ).
Cái tư duy “sông biến thành thành sông rượu” đã quá tài hoa kiểu như “Sông Hương hóa rượu tôi đến uống” của Nguyễn Trọng Tạo thời nay, nhưng tài hơn nữa là hai từ “xuân tửu” (rượu xuân). Ở đây, hình như Ức Trai đã uống thật nhiều để cảm nhận cả dòng sông đã thành dòng xuân, và vì thấy dòng “rượu xuân” quá tuyệt vời nên chẳng ai dám uống. Chẳng ai dám uống, nhưng nhà thơ lại lý luận ngược rằng “Sông rượu ngại ông say” nên vẫn cứ giữ nguyên vẹn một dòng xuân. Thi tứ ấy đã làm nên tài hoa Nguyễn Trãi, sáng soi từ thế kỷ XV cho đến tận thế kỷ này.
“Thương hải biến vi tang điền” - thời cuộc thì vần xoay, biến cải, làm phận người trong dòng xoáy ấy, cứ bị cuốn đi, chao đảo với muôn sự chuyển dời, ngẫm lại, ba mươi năm sau, nghe tiếng chim tuổi thơ mới sực tỉnh là mình chẳng còn là mình, chẳng còn được vô tư như tiếng chim hót tự do muôn năm vẫn thế, tự nhiên và trong trẻo:
Ba chục năm trời đều mộng ảo
Chim kêu vài tiếng vẫn như xưa (Đề chùa Đông Sơn).
Trong cuộc phù trầm của cuộc đời dâu bể, những lúc tha phương, nhà thơ nhớ về một “vườn quê” êm đềm. Thân tha hương, cứ nghe mưa lại càng thêm nhớ, đêm ngủ tạm bên đường, nghe tiếng dế rỉ rên lại càng đứt đoạn nhớ mong. Ôi cái vườn quê yên ả, thanh bình, lúc nào cũng đi về trong mộng:
Vườn quê mộng tới, mưa thêm nhớ
Quán trọ đêm nghe dế gợi mong (Gửi bạn).
Hình ảnh cây tre xanh đón gió trên bến nước khiến người thơ không tài nào ngủ được, lại tự thương lấy thân mình khi đã nếm trải qua bao thăng trầm cuộc thế. Đây là những dòng thơ gụi gần của một tâm hồn rộng mở. Cái “thắc mắc tình” của người lữ khách trên sông quả là một thi tứ tài hoa của Ức Trai tiên sinh:
Tre xanh trước bến hiu hiu gió
Khách ngụ trên sông thắc mắc tình
Tuổi tác đường đời gian hiểm trải
Đêm khuya chẳng ngủ nghĩ thương mình (Tầm Châu).
Danh lợi là phù hoa, giọng thơ cứ ngùi ngùi, buồn xa vắng và thấm thía của một hồn thơ đã trải qua bao thăng trầm trong cuộc sống, toát lên một triết lý ý vị: dẫu tuổi tên có khắc trên bia đá thì tất cả rồi cũng bị khỏa lấp theo dòng thời gian:
Tuổi tên tinh biểu nay còn lại
Bia đá nghìn năm cỏ mọc tràn (Giang Tây).
Ngẫm lại đời mình, ngẫm thời cuộc, Nguyễn Trãi đã cô đúc được những tứ thơ vừa chứa cốt cách của một “nhà Nho tài tử” lại vừa mang tính triết lý của một người đã đi qua bao vinh nhục cuộc đời của một “nhà Nho hành đạo”. Và với bản lĩnh của mình, ông nhìn nhận ra những chân giá trị của đời người để vươn đến một lẽ sống tốt đẹp hơn, an nhiên hơn:
Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.
Dưới công danh đeo khổ nhục
Trong dại dột có phong lưu (Ngôn chí 2).
Phú quý, công danh trên cuộc đời đến rồi đi, đọng rồi tan như giọt sương mai trên cỏ, như giấc mộng Nam Kha dưới gốc hòe, không bao giờ trường cửu. Là người coi thường công danh, phú quý, thơ của Nguyễn Trãi không oán than, chua chát, mà là thi tứ của một tâm hồn đã đắc đạo, đứng trên sự cám dỗ của tiền tài, danh vọng để cô đúc thành tứ thơ hàm chứa được tư thế cũng như tư tưởng triết lý của bậc hiền tài:
Phú quý treo sương ngọn cỏ
Công danh gửi kiến cành hòe (Tự thán 3).
Phận người, dù có là người anh hùng cái thế thì qua nếm trải cay đắng cuộc đời, cuối cùng cũng tự thương lấy tấm thân như ngọn cỏ bồng cuốn theo chiều gió. Câu thơ đọc lên cứ nghe vọng lại tiếng thở dài ngao ngán của tiền nhân:
Khi buồn chán ngán bức thư không
Ngang dọc thương thân tựa cỏ bồng (Họa thơ Hương tiên sinh).
Đọc câu thơ dưới đây của Ức Trai, chúng ta cảm nhận dường như “ba canh mưa gió” kia không phải của trời đất, mà chính là nỗi sầu lớn không biết gửi vào đâu của Ức Trai, và chính nó - nỗi sầu ấy đã làm nên cuộc gió vũ mưa vần suốt thâu đêm trong thơ:
Như hỏi nơi nào sầu tạm gửi
Thư trai mưa gió suốt ba canh (Thư gửi cậu).
Trong thơ của các nhà thơ trung đại, ta thường bắt gặp thật nhiều nước mắt khi họ viết về người thân và bè bạn tri âm. Hình như, chỉ có người tri âm mới hiểu hết nỗi lòng của kẻ tri âm, và có lẽ vì viết cho tri âm nên họ bộc lộ tấm lòng mình một cách chân thật hơn, buồn hơn so với khi viết về những vấn đề khác:
Tặng bác vài câu tôi tự cảm
Thơ xong tôi cũng lệ vơi đầy
(Đề Hà Hiệu úy, nhìn mây trắng nhớ cha mẹ).
Sau Nguyễn Trãi bốn thế kỷ, Cao Bá Quát cũng đã từng nhỏ lệ với tri âm, tri kỷ:
Gặp nhau chưa chết đã may rồi
Lại phải chia tay lệ sụt sùi
Đành nỗi hạc già chung chỗ đậu
Cùng đau sóng gió những con người
(Ông Đoàn Tính lúc sắp lên đường,
nâng chén từ biệt viết chạy bài này để tặng).
Càng xa con đường của “nhà Nho hành đạo”, Nguyễn Trãi lại càng về gần với phong thái của một “nhà Nho tài tử”. Tâm hồn vốn phóng khoáng của Ức Trai lại càng bay bổng, lãng mạn hơn, “bầu rượu túi thơ” cũng xuất hiện nhiều hơn, câu thơ cũng phóng đạt hơn nhiều:
Đồ giác hồ trung phong nguyệt hảo
Niên niên bất dụng nhất tiền xa
Dịch: Chỉ thấy trong bầu, mây gió sẵn
Hàng năm mua bán, chẳng từng qua (Bài 89).
Cái tỉnh say, say tỉnh của người thơ hòa quyện trong tình bạn và trong cả nỗi say đời:
Nghiêng bầu cùng bạn đồng thanh nhắp
Chủ khách đều say, chẳng tỉnh riêng
(Nguyễn Mộng Tuân mừng nhà mới Thừa chỉ Ức Trai).
Say đời, nhưng đời đang suy thì tồn tại trong thơ Ức Trai là nỗi sầu đời:
Vượn sầu, hạc oán, liên miên nghĩ
Rừng trúc hiu hiu gió gợi sầu (Đề đền Ngọc Thanh Quan).
Viết về thiên nhiên, Nguyễn Trãi cũng để lại những thi tứ tài hoa. Cảnh trong thơ Ức Trai đã vượt ra rất xa phong cảnh Đường thi để về gần với cảnh vật đời thường. Vẫn có “phong, nguyệt” của thơ chữ Hán đó, nhưng cái “gây gấy rét” và “làn hương” trong gió kia thật gần gũi:
Gió cửa trăng hiên gây gấy rét
Ví không có gió đưa hương theo
(Đề hiên Mai tuyết của Hoàng Ngự sử).
Cả con thuyền chèo trên sông biếc dưới ánh trăng trong câu thơ Nôm này cũng rất tài hoa:
Thuyền chèo đêm nguyệt sông biếc
Cây đến ngày xuân lá tươi (Ngôn chí 21).
Từ các loài hoa gần gũi (cúc, lan, mai) rồi có cả “tuyết” cả “suối”, nhưng vượt lên trên là cái thi tứ bao trùm, lấy “ non xanh” làm “cố nhân” để mà tâm sự. Cái cao xa, phóng khoáng của hồn thơ Ức Trai chính là cái chí gửi nơi “non xanh” ấy:
Hái cúc ương lan hương bén áo
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn.
Đàn cầm suối trong tai dội
Còn một non xanh là cố nhân (Thuật hứng 15).
Ông quan đại thần trong thơ Nguyễn Trãi đã thoát thân thành một lão tiều phu. Một tiều phu nhưng vẫn đậm phong thái “gác cần câu” của một “nhà Nho ẩn dật”:
Đạp áng mây, ôm bó củi
Ngồi bên suối, gác cần câu (Trần tình 5).
Cái “Cây mía” bình dân hiếm thấy trong thơ trung cổ, lại được chính Ức Trai tiên sinh chú ý tới. Mà một khi đã được thơ chú ý đến thì dù sự vật có nhỏ nhoi, tầm thường cũng hóa thành một tứ thơ tràn vị ngọt, ngát mùi hương:
Ăn nước kia ai được thú
Lần từng đốt mới hay mùi. (Mía).
Cụm từ “Ăn nước”, “Lần từng đốt” cho ta thấy rõ thi tài của Nguyễn Trãi. Tả cái chàng bướm đa tình giữa vườn xuân với dáng bay nhẹ nhàng đầy khiêu gợi, trong sự chào đón tưng bừng (“tớp tớp vây”) của muôn hoa, sự níu kéo của nàng liễu rũ, thì cái tứ thơ này của Ức Trai đã đạt đến độ hiện đại của một tư duy thơ vượt qua thời đại:
Làm sứ đi thăm tin tức xuân
Lay thay cánh nhẹ mười phân
Nội hoa tớp tớp vây đòi hỏi
Doanh liễu khoan khoan khéo lữa lần (Trận bướm).
Và không hiểu sao, cứ nhắc đến hai câu thơ này, cảm được cái độ cao của “phượng”, cái tự do bay liệng của “diều”, ai ai cũng phải thán phục tài thơ của Ức Trai bởi bên dưới cái cao xa, tự do kia là vời vợi một triết lý mang tính quy luật muôn đời ở câu thơ cuối: Cái tốt đẹp, cái quý luôn luôn cứ mong manh, dễ tan biến; còn cái bình thường thì luôn luôn tồn tại lâu bền:
Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng
Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi (Tự thuật 9).
Là nhà chính trị trung quân, một nhà quân sự tài ba, một nhà ngoại giao lỗi lạc, nhưng rõ ràng, nếu Nguyễn Trãi không phải là một nhà thơ thiên tài thì có khi tất cả những danh xưng tài ba ngoài thơ kia có thể sẽ bị chôn vùi cùng kỳ án Lệ Chi viên oan khuất.
Nhân kỷ niệm 580 năm danh nhân Nguyễn Trãi (1442-2022) rời bỏ cõi trần sau tai họa tam tộc bị tru di thảm khốc, khắc họa lại con người thơ Nguyễn Trãi để có thể thấy rằng chỉ có văn chương là vô tư sống mãi cùng thời gian một cách khách quan, không ai có thể vùi dập được… MBA