Lê Hồng Khánh
“Nếu đem vào sổ đoạn trường
thì trao giải nhất chi nhường cho ai”
(Nguyễn Du)
Chân dung Van Gogh
Giá như có một “đoạn trường họa” như đã có một “đoạn trường thơ” thì những lời trên đây của Nguyễn Du nói về nàng Kiều qua cửa miệng Đạm Tiên cũng xứng đáng dành cho V.Van Gogh, bởi vì, cuộc đời và sự nghiệp của đại danh họa người Hà Lan này cũng là nơi “con tạo” bày trò “tài mệnh ghét nhau” quá đỗi giằng dai, oan nghiệt. Có khác chăng, là người con gái họ Vương đã có dịp đoàn viên sau 15 năm lưu lạc, còn Van Gogh thì kết thúc những năm tháng nghèo khổ, bệnh tật cuối đời bằng một phát súng tự nổ vào ngực!
Đã hơn một thế kỷ, kể từ cái ngày 27-7-1890 đầy bi thảm ấy, bao nhiêu bài báo, cuốn sách đã viết về ông. Tác giả những trang viết ấy không chỉ là họa sĩ, nhà văn, nhà phê bình nghệ thuật mà còn là nhà buôn tranh, nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần ...Vẫn còn tiếp tục những cuộc tranh luận những công trình phân tích về bệnh trạng, các khám phá, nét độc đáo của tranh Van Gogh; tuy nhiên, tất cả đều đã thống nhất một nhận định: Van Gogh là một khuôn mặt lớn của hội họa thế kỷ XIX, là một trong ba con người (Van Gogh, Gauguin, Cézand) chi phối mạnh mẽ bước đi của các trường phái hội họa hiện đại.
Giai đoạn đầu trong “hành trình” sáng tác của Van Gogh kết thúc vào năm 1885 với họa phẩm “Những người ăn khoai”. Đây là thời kỳ mày mò, tự học với những bức tranh vẽ bằng than, phấn, bút chì ... chịu ảnh hưởng Rubens, tranh Nhật, cũng như tác phẩm của các “tiểu sư” danh tiếng Hà Lan. Tiếp theo đó là những cuộc gặp gỡ và nỗi chán ngán với Rappard, Mauve ... và cả trường mỹ thuật Antwerpen (Bỉ) vì chất “kinh viện” gò bó, khuôn sáo, lỗi thời của chủ nghĩa cổ điển hậu kỳ.
Giữa lúc đó, ở Pháp, chủ nghĩa ấn tượng (Impressionnisme) đã dấy lên thành phong trào sôi nổi với Monet, Pissaro, Sisley, Renoir ... mà đỉnh cao là cuộc trưng bày 1 tháng, từ 15-4 đến 15-5 năm 1874 tại Paris. Với nhiệt tình sôi nổi của tuổi trẻ và niềm say mê sáng tạo của một họa sĩ, Van Gogh đã hăng hái tham gia phong trào này: Kết thân với các họa sĩ ấn tượng, định cư hẳn ở Paris (1886), đồng thời cho ra đời một loạt tác phẩm sử dụng thủ pháp sắc điểm và mỹ thuật phối màu khá độc đáo: Nội cảnh quán ăn, Bờ sông mùa xuân, Đồng cỏ ra hoa ... Thế nhưng, sau những bột phát ban đầu, ánh hào quang chói lọi của chủ nghĩa ấn tượng đã dần dần phai nhạt. Sự tuyệt vời của ánh sáng và không khí, vẻ sáng sủa, linh hoạt của bảng màu, cuộc đuổi bắt thiên nhiên đầy hào hứng, đã không giúp được những họa phẩm thiếu sự chặt chẽ về hình khối và nhất là thiếu chiều sâu nội tâm cùng sự sắc sảo của tư tưởng, có thể tiếp tục đứng vững trong lòng người. Đối với Van Gogh, sau cái say sưa, nhiệt khởi của kỳ tao ngộ, ông đã nhận ra hướng đi của những họa sĩ ấn tượng tiền phong không hợp với cái “tạng”của riêng mình. Lại ra đi, lại tiếp tục cuộc hành hương về nghệ thuật: Cùng với Gauguin và một số họa sĩ trẻ, Van Gogh rời Paris về phương Nam. Arles, một miền đồng bằng phóng đãng của miền Nam nước Pháp là nơi thiên tài chọn chỗ dừng chân. Từ đây, màu vàng của ngôi nhà dùng làm “xưởng vẽ miền Nam” đã đi vào tranh ông cùng với những cánh đồng thoáng rộng, vườn cây tươi tốt, ánh nắng chói chang ... Các họa phẩm “Lúa vàng”. “Cánh đồng Overt”... và bộ tranh kiệt tác “Hoa hướng dương”, với cách sử dụng màu vàng nghiêm trang và bóng ánh óng ả tuyệt vời đã được sáng tác trong giai đoạn này.
Cần phải nói thêm rằng, Van Gogh, cũng như Gauguin, Cézand không phải đã đoạn tuyệt với chủ nghĩa ấn tượng, mà thực ra, các ông đã đưa chủ nghĩa ấn tượng ngoặt qua một khúc quanh mới. Các nhà phê bình nghệ thuật đã xếp chung 3 danh họa này vào “trường phái hậu ấn tượng” là vì vậy. Những thành tựu về kỹ thuật màu, ánh sáng, phương pháp tiếp cận thiên nhiên vẫn còn đó, nhưng trong khi Cézand đi tìm một cấu trúc mới cho nghệ thuật tạo hình, Gauguind cố tìm cách giản dị hóa các nét vẽ để đạt đến chất tượng trưng, lột tả “tinh thần tổng hợp” của đối tượng, thì Van Gogh đặc biệt chú trọng đến những cảm xúc nội tâm, xem những rung động bên trong như là nơi khởi phát của cảm hứng sáng tạo. Hãy nghe con người mà sau này chủ nghĩa biểu tưởng (Expressionnisme) xem như một vị “cao tổ” phát biểu: “Tôi muốn vẽ một bạn nghệ sĩ, một con người đang ấp ủ những giấc mộng lớn, lao động hồn nhiên như chim họa mi đang hót véo von... Bạn tôi sẽ có bộ tóc vàng hung. Tôi muốn gửi gắm trong bức tranh sự bình phẩm thưởng thức và lòng yêu mến của tôi đối với bạn ấy, cố sao cho trung thực, cho giống. Nhưng chưa phải như thế là xong bức tranh. Để hoàn thành, tôi là người pha màu, điều sắc vô lý. Tôi bôi cho bộ tóc quá vàng chuyển tới màu da cam. Sau đầu bạn tôi, đáng lẽ chỉ vẽ bức tường tầm thường của căn phòng ti tiện, tôi họa không gian vô cùng , vô tận trên nền đơn giản màu xanh cực thẳm, màu xanh đậm đà mà tôi có thể điều chế, và nhờ sự phối hợp giản dị đó, màu tóc vàng của bạn tôi sáng lên trên nền xanh rực, đạt được hiệu quả huyền bí như ngôi sao trên trời cao thẳm”. Ông còn nói rõ thêm, về chủ đích sáng tạo của mình: “Tôi đã cố tìm cách biểu lộ với màu đỏ và màu xanh lục những cuồng vọng khủng khiếp của con người”. Những lời trên đây đã bộc lộ khá rõ những gì Van Gogh đã tiếp nhận ở các họa sĩ ấn tượng lớp trước, cũng như quan niệm của ông về con người, cuộc đời, nghệ thuật.

Hoa Diễn vĩ
Trong cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của Van Gogh, giai đoạn được người ta nói đến nhiều nhất với niềm yêu mến, kính trọng và xen lẫn xót thương, là những năm tháng cuối cùng. Thái độ lạnh nhạt của dư luận đương thời, cảnh nghèo túng, những cơn động kinh thường xuyên như là sự cố tình tàn bạo của định mệnh hòng đè bẹp cuộc sống và sức sáng tạo của người họa sĩ thiên tài. Nhưng, thật đáng khâm phục và ngợi ca, với một nghị lực phi thường, một niềm ham sống vô biên, Van Gogh đã vươn lên, chống trả kịch liệt tình cảnh bi đát của mình, để sáng tác và phát biểu những ý kiến hết sức đúng đắn, sáng suốt về hội họa. Chính trong khoảng thời gian này, ông đã vẽ hàng loạt những tác phẩm có giá trị. “Đêm sao”, “Con đường với cây trắc bá diệp”, “Sau cơn mưa”... và kiệt tác lẫy lừng “Hoa diên vỹ”. Màu vàng nghiêm trang của thời kỳ trước đã trầm dần, màu xanh tươi tắn biến thành màu lục cực thẳm, và thêm vào đó là một màu đỏ dữ dội, mãnh liệt, quằn quại, gào thét. Các sáng tác tự họa chân dung: “Vincent trên nền lửa”. “Tự họa, băng tai và ngậm tấu” diễn tả tuyệt vời một thế giới nội tâm đầy bão táp, vừa u uất dữ dội, vừa khát vọng, đau thương.
Khó có thể nói hết ảnh hưởng to lớn của Van Gogh đối với hội họa hiện đại. Cả chủ nghĩa dã thú (Fauvisme) lẫn chủ nghĩa biểu tượng (Espessionlsme) đều xem ông như là người đặt nền móng cho những khai phá của họ.
Là một người Hà Lan dĩ nhiên tài năng ông làm rạng rỡ dân tộc mình, nhưng lịch sử hội họa Pháp sẽ xuất hiện một khoảng trống không gì lấp nổi nếu thiếu vắng tên ông. Sự nghiệp hội họa của ông là đỉnh cao sừng sững trên con đường nhân loại vươn đến chân - thiện - mỹ. Đối với công chúng phương Tây, cái tên Vincent Van Gogh đồng nghĩa với “một tượng trưng nhân vật lãng mạn có niềm khao khát vô bờ”.
Thời gian gần đây, “cơn sốt” tranh Van Gogh đã làm cho dư luận đi từ ngạc nhiên đến kinh hoàng. Hàng loạt những vụ đánh cắp tranh ông đã xảy ra. Bảo tàng nào hiện đang lưu giữ tranh ông đều được đặt trong một tình trạng bảo vệ cẩn mật của phương tiện điện tử, nhân viên bảo vệ, cảnh sát nước sở tại và cảnh sát quốc tế (Interpol). Trên “thị trường tranh”, năm 1987, bức “Hoa hướng dương” được bán với giá 39,9 triệu đô la, còn bức “Hoa diên vỹ” thì lập kỷ lục với 53,9 triệu đô la vượt qua cả tranh Picasso (bức cao giá nhất, đến thời điểm tương ứng là 47,8 triệu đô la) và được ghi vào Guinness 88. Vậy mà khi còn sống, trong cảnh nghèo khổ, quẩn bách, tật bệnh, người sáng tạo 800 tác phẩm ấy chỉ bán được duy nhất bức “Vườn nho đỏ” với giá 400 phơ răng. Cái giá của bèo!
Trong quán cà phê
Thật là một nghịch lý đầy bi đát của thân phận thiên tài. Tiểu Thanh, Hàn Mặc Tử, Pasternak, Van Gogh... và còn ai nữa? Bao giờ thì những lời than xót xa đứt ruột của Tố Như tiên sinh mới không còn là chuyện thật: Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ “tài”, chữ “mệnh” khéo là ghét nhau!...
L.H.K
Chú thích ảnh:
H1. Chân dung tự hoạ (1889)
H2: Hoa Diên Vĩ (Iris 1889)
H3: Bức Tranh Cà Phê Vỉa Hè Trong Đêm – Café Terrace at Night (1888)