Ba tập thơ cho một đời thơ không thể nói là nhiều nhưng cũng không phải ít. Nguyễn Giúp ra đi để lại một gia tài thơ, ở đó lấp lánh vẻ đẹp của một hồn thơ, ở đó câu chữ bình dị mà quẫy đạp dữ dội.
Những con sông quê hương – Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang.., từ lâu đã thành dòng chảy văn hóa trong thi ca xứ Quảng. Có thể nói không có nhà thơ Quảng Nam nào không một lần lấy hình ảnh dòng sông quê hương làm thi đề để viết. Nhưng viết cho ra thơ và không lặp lại người khác không phải dễ. Nguyễn Giúp sinh ra, lớn lên trên sóng Thu Bồn, thơ về sông như định mệnh của đời anh: Cha mẹ ngược dòng/ Con sinh ra/ Lũ anh em nhung nhúc khoang đầy/ Ghìm mái chèo rẽ sóng (Vạn đò).

Cho nên tâm hồn anh là dòng chảy, giang hồ là nguyên sinh. Những câu thơ anh viết về Vu Gia, Thu Bồn… rất tự nhiên mà đầy ma lực, ám gợi. Có quãng sông: một đôi vách dựng/một dòng phăm phăm chảy xiết, ngầu ngầu say. Có quãng, sông như lịm đi, sau khi qua thác qua ghềnh… Sông trong thơ Nguyễn Giúp “lạ lùng”, độc đáo đến như thế. Sông nơi thượng nguồn mang vẻ đẹp hoang vu, chứa đầy bí mật: Chảy đi hết thác ghềnh sông mới thấy mình còn trẻ quay về Pơ mu nguyên sinh/ Ngất chạm mặt trời/ sung mãn chồi cao/ Người mẹ trẻ Cơ Tu căng phơi vú/ ngời sữa/ Hình hài Tr’Hy, Ch’Ơm/ thác liên hồi tung bọt/ ta vịn Đỉnh Quế mây trời bay (Sóng Thu Bồn).
Nguyễn Giúp có nhiều thơ viết về miền núi Quảng Nam. Đây là kết quả của những chuyến đi thực tế và những năm tháng anh gắn bó cùng nơi đó với nghề dạy học. Không có sự trải nghiệm này anh không thể viết được những bài thơ, câu thơ mang âm vang của đại ngàn, mang hơi thở của đất đai và con người nơi này: Thị trấn như đôi mắt thiếu nữ Bh’noong buồn và đẹp/ Đại ngàn ngân lên cung bậc đêm (Sóng Thu Bồn) …
Một miền ngược Quảng Nam vạm vỡ với nhiều thanh âm, hương vị, cung bậc được nhà thơ Nguyễn Giúp “phổ” vào thơ, giúp người đọc thêm hiểu, thêm quí, thêm yêu một vùng đất, cũng như quê hương đất nước mình. Đây là đóng góp có ý nghĩa của nhà thơ cho nền thơ xứ Quảng. Anh xem “giang hồ là nguyên sinh”, là “khát khao lưu lạc” để được quay về. Có “một dòng cố hương/một ngụm tha phương” trong thơ anh. Một tha phương gọi anh, ám ảnh anh: Tôi bội bạc mép vườn nhà cú kêu/ mặc cát sỏi níu cây sào cắm phập/ tôi vẫy tay thiên di (Đất & tôi)
Anh say “gió độc”, anh đi “tìm lận đận trên bờ ly hương”. Anh muốn “gặt một trời tha hương” nhưng... lại gặp chính mình: “thằng giang hồ đầu hói”! Và cứ thế anh “lột tôi xưa bỏ chợ”, anh lộn trái mình ra. “Giang hồ mê man” đến “tím bầm khúc sông” và khi “lòng nhói đau cố quận, vần vũ góc trời quê kiểng” thì anh lại mời anh “quay về nguyên quán”, về “ôm em hít hà nỗi quê ngai ngái” và tạ lỗi với “mép vườn nhà cú kêu”. Anh rất khéo khi chọn cách thể hiện, cách “phiêu” lạ như vậy để đốt mình lên trong thơ. “Giang hồ mê man” để “quay về nguyên quán”, là cách để anh nói cho hết, cho thõa nỗi yêu quê… Gởi gắm cái tình với cố hương, theo cách ấy, thật đặc sắc, thật hay…
Nguyễn Giúp là nhà thơ của “những giấc chiêm bao ác liệt nửa khuya”, của “đột nhiên quyết liệt nỗi đam mê” nên cái chi cũng muốn tận cùng. Với anh, yêu cũng: “một lần yêu cuối cùng rồi tan biến”, xanh cũng đòi “xanh lên màu xanh nguyên sơ”... Anh muốn “hết thảy giác quan kịch liệt bới tìm”, muốn “quả tim người phát nổ”. Anh đã “găm một mảnh điên vào người” thì cứ thế lao đi: Găm một mảnh điên vào người/ Tôi lao đi với hai tay tự do vẫy chào sương mai vẫy chào tương lai (& em)
Chừng như chân anh đã lội khắp Quảng Nam: lên rừng xuống biển, qua bao phố bao làng, hiểu nỗi niềm của sông mẹ sông con, thuộc từng con đường, góc chợ… Tới đâu tấm lòng thơ của anh cũng rung ngân. Anh có tài phát hiện chất thơ trong những chất liệu đời sống rất đỗi bình dị, đời thường: Mùa dồng dộc kéo nhau về làm tổ/ Chạnh lòng những đường khâu mẹ ngồi vá non cao (Ao khuya).
Giật mình dòng Thu gió siết đôi bờ tre lũy/ Khúc Chàm lửa nung chiều Mĩ Sơn mềm đôi búp tay thiếu nữ (Hát với Thu Bồn)
chị lớn kịp cây bạch đàn cụt ngọn/ phía chuồng trâu trổ bông (Cổ tích cho chị)
Ngoan nhé những mặt trời xanh màu núi của ta ơi/ Mai thầy về xuôi chỉ còn chiếc ba lô xẹp thủng (Sóng Thu Bồn)
Nhà thơ từng xem cái chết là điều hằng thường:
Chết nghĩa là không thức dậy sau lúc ngủ say, hay đã đi chơi xa không về lại, hay vĩnh viễn vắng nhà. Vậy thôi. (…Và bất tận có thể)
Nhiều lần, trong thơ, anh tiên cảm về sự ra đi của mình. Anh “chắp hai tay lên ngực lạy với lòng Quảng Nam” và rót “một chén hoàng hoa ta xa người” như một lời từ biệt. Có lúc lòng nhà thơ cũng gợn lên một nỗi niềm, khi một mình đi qua dòng sông li biệt: Đêm nay nguyệt thực người đòi chết/ Ta sợ linh hồn không lối ra (Chảy cùng những nhánh sông)
*
Ba tập thơ, bằng sự lựa chọn thể thơ tự do để thể hiện, Nguyễn Giúp đã thành công. Không phải Nguyễn Giúp không chú ý đến tính nhạc trong thơ. Thơ anh giàu nhạc điệu, nhưng không phải từ vần mà là nhạc điệu của cảm xúc, nhạc điệu của tâm hồn. Anh thích sự giao thoa thể loại, giải thiêng câu thơ, đưa câu thơ gần với câu văn xuôi, gần với thế tục, nhưng nhịp điệu vẫn hiện hữu, tạo nên bước thơ cho thi phẩm của mình: & anh không còn nhận ra em với khuôn ngực đẹp với nụ cười ánh trăng reo suốt một thời thiếu nữ trong ngần (Thơ)
Rất nhiều khi anh chủ động cắt vạch nhịp để “buộc” người đọc ngắt nhịp câu thơ theo ý mình: Đêm/ bếp lửa ủ nắng/ đêm/ cơn giông từ đôi mắt em chực phả vào ta những khát núi/ đêm/ ché rượu thu lu bên góc nhà đợi tiệc/ đêm/ bời bời (Sóng Thu Bồn)
Anh không ngại đưa những “kí tự lạ” vào trong thơ: ô ô ô…/ô ô ô…/adhi/adhi/ư ư ư/ ……………/Kik – kik – kik/ koo – ooo (Sóng Thu Bồn)
Cả những tiếng nước ngoài như download, delete,… Có khi anh còn vận dụng bố cục của nghệ thuật sắp đặt để tạo hiệu ứng thẩm mĩ mới cho thơ mình: Đất thinh lặng giấu vào lòng mình những/ Chum/ Lọ/ Tro/ Cốt/ Đồng/ Vàng/ Gạch/Gốm từng Lồi/Lạc/Chăm/Chợ/mọi rợ… (Sóng Thu Bồn)
Có thể xem đây là sự cố gắng cách tân đáng ghi nhận về hình thức nghệ thuật để thơ gần với đời hơn. Thơ Nguyễn Giúp mạnh về liên tưởng. Yếu tố nghệ thuật này như chiếc chìa khóa giúp nhà thơ kết nối nhiều thi ảnh, gợi khơi nhiều vỉa tầng ý nghĩa, tạo ra bất ngờ thẩm mĩ cho người đọc.
Ở bài thơ Trên đỉnh Phường Rạnh, từ việc “chạy xe lên đỉnh đèo nằm nghe gió xô”, hình ảnh của kí ức, của hiện tại và cả tương lai lũ lượt kéo về: “mẹ cha buôn mắm bán mủng”, rồi “khúc lưu dân về đâu”, đến “thuyền đua trống giục”, “em đi chợ sớm Phú Đa”, “bạn bè anh rượt đuổi hoàng hôn rượt đuổi bóng tăm con nước”, “bóng Chàm đứng lặng” v.v... Cảm xúc là chất kết dính bên trong tạo ra sự liền lạc của hình ảnh, ý tưởng. Bài thơ đầy ứ cảm xúc, có sức ngân rung lạ thường. Nhà thơ viết được nhiều câu thơ hay nhờ trường liên tưởng ấy: Mẹ là bình vôi bao dung/ Em là ngọn nến cháy sáng bên chiếc lồng bàn (Chiều tối có mưa giông trên đồi)
Núi thơm từng cọng lửa/ hun hút là đôi mắt em
bến bờ (Rẻo cao)
Đêm rót điệu còng xuống cát/ mặt trời ngủ say (Khúc làng chài quê tôi)
Thơ Nguyễn Giúp là một chi lưu khá đẹp, góp vào dòng chảy đa sắc màu của thơ ca xứ Quảng. Anh đã viết được nhiều bài thơ lớn: Gò Nổi, Nhà ngoại tôi trăng lên, Phế tích một sân ga, Trên đỉnh Phường Rạnh, Hát với Thu Bồn… cho đời thơ mình. Nhà thơ tự khắc họa một chân dung thơ, một cõi thơ cho riêng mình. Đó là sự còn lại mãi mãi của một nhà thơ, của một nghệ sĩ, sau khi vĩnh biệt cõi đời.
Nguồn Văn nghệ số 43/202